Có Nên khống chế Hạn Mức Tín Dụng

Nhìn lại lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam có thể thấy, từ năm 1994, Ngân hàng Nhà nước thực hiện HMTD cho 4 NHTM quốc doanh. Sau đó, việc áp dụng HMTD được mở rộng sang NHTM cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài lớn nhằm hạn chế tốc độ cho vay, để kiểm soát lạm phát. Trong điều kiện thị trường thứ cấp chưa phát triển, Ngân hàng Nhà nước chưa thể sử dụng thị trường mở để kiểm soát sự gia tăng tổng phương tiện thanh toán, thì việc sử dụng công cụ này là cần thiết.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuy nhiên, do bản chất của HMTD là công cụ điều hành mang tính hành chính, can thiệp trực tiếp và chỉ được phân bổ đối với một số NHTM, nên phần nào hạn chế tính công bằng trong cạnh tranh. Đồng thời, HMTD cũng không được điều chỉnh một cách linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đã làm ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Do đó, đến năm 1998, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định không sử dụng HMTD như là một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ, mà chỉ dùng khi cần hạn chế sự gia tăng tín dụng nhanh chóng, dẫn tới nguy cơ lạm phát cao.

Sau hơn 13 năm được dỡ bỏ, đến năm 2011, công cụ HMTD lại được Ngân hàng Nhà nước sử dụng trong điều hành. Cụ thể, theo Chỉ thị 01/CT-NHNN, ngày 01/3/2011 về thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các NHTM xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng cho năm 2011 không được tăng quá 20% dư nợ so với cuối năm 2010 và phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.

Bên cạnh HMTD nói chung, trong năm 2011, Ngân hàng Nhà nước còn quy định HMTD đối với lĩnh vực phi sản xuất, như: bất động sản, chứng khoán, vay tiêu dùng khác... đến ngày 31/12/2011 còn tối đa 16%. Có thể thấy rằng, việc cơ quan quản lý nhà nước kiên quyết giảm tốc độ và tỷ trọng tín dụng phi sản xuất là đúng! Bởi, hoạt động cho vay khu vực này lại chủ yếu nằm ở các NHTM trong nước. Tại thời điểm đầu năm 2011, có 18 NHTM cổ phần có tỷ trọng cho vay phi sản xuất dưới 25%, và 24 NHTM cổ phần có tỷ trọng trên 26% (trong đó: NHTM có tỷ trọng cho vay phi sản xuất thấp nhất là 8,5%/tổng dư nợ, cao nhất là 59%).

Kết quả thực hiện đến hết năm 2011, dư nợ tín dụng cả nền kinh tế chỉ đạt 12%, thấp hơn nhiều kế hoạch đề ra, HMTD đối với lĩnh vực phi sản xuất cũng đảm bảo thực hiện nghiêm túc.

Rút kinh nghiệm năm 2011, ngay từ đầu năm 2012, tại Chỉ thị số 01/2012/CT-NHNN, ngày 13/02/2012 về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã giao chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng tín dụng cho 4 nhóm NHTM có phân biệt dựa trên chất lượng, trực tiếp là tỷ lệ nợ xấu của từng ngân hàng. Cụ thể: nhóm 1 tối đa là 17%; nhóm 2 tối đa là 15%; nhóm 3 tối đa là 8% và nhóm 4: 0% (không được tăng trưởng tín dụng). Sau đó, cơ quan này đã điều chỉnh tăng chỉ tiêu cho 36 tổ chức tín dụng có điều kiện thực tế mở rộng cho vay an toàn; đồng thời, vẫn khống chế HMTD trong lĩnh vực phi sản xuất là 16%. Kết quả là năm 2012, dư nợ cho vay đối với nền kinh tế chỉ tăng được 8,91%, thấp hơn rất nhiều so với kế hoạch đề ra.

Năm 2013, mặc dù lạm phát đã được kiểm soát khá ổn định, nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì sử dụng công cụ HMTD. Theo Chỉ thị 01/CT-NHNN, ngày 31/01/2013 về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2013, thì mức tăng trưởng tín dụng không quá 12% so với năm 2012. Thế nhưng, thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến hết tháng 7/2013, tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế mới chỉ tăng có 5,02%, dự báo đến hết năm sẽ khó đạt chỉ tiêu đề ra.

Nên "gỡ bỏ” hạn mức tín dụng?

Nhìn lại thực tiễn ứng dụng HMTD có thể thấy, công cụ này đã phát huy một số tác dụng trong việc thúc đẩy các tổ chức tín dụng đổi mới và tái cơ cấu hoạt động trên các mặt:

Thứ nhất, Thúc đẩy các NHTM phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả và các chỉ số an toàn hoạt động để được xếp hạng tín nhiệm cao và có được hạn mức tăng trưởng cao.

Thứ hai, Điều chỉnh, hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, góp phần cải thiện tính thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ thống, giảm áp lực lạm phát.

Thứ ba, Tác động mạnh mẽ và có hiệu quả đến mục tiêu tái cơ cấu, sáp nhập các NHTM yếu kém, tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kiểm soát HMTD của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua cũng đã bộc lộ một số hạn chết, đặt ra câu hỏi nên hay không nên tiếp tục giữ công cụ này trong điều hành chính sách tiền tệ. Cụ thể là:

Thời điểm áp dụng công cụ HMTD chưa phù hợp.

Trong giai đoạn nền kinh tế đang khó khăn, suy kiệt tín dụng và giảm tổng cầu, thì công cụ này không những không phát huy được tác dụng với nhiều tổ chức tín dụng, mà ngược lại còn kìm hãm tăng trưởng.

Cụ thể, trong cả năm 2011, dư nợ tín dụng tăng trưởng 14%/năm, bằng 70% mục tiêu đề ra và giảm (-56%) so với mức tăng trưởng của 2010 (31,19%). Sang năm 2012, mục tiêu tăng trưởng tín dụng đặt ra là 15-17%. Trong năm này, từ tháng 3-7/2012, CPI giảm liên tục xuống mức theo các tháng (0,16; 0,05; 0,18; -0,26; -0,29 ), CPI cả năm 2012 tăng rất thấp, tăng 6,81%, thấp hơn mức 7% do Quốc hội đặt ra. Đến hết năm 2012, theo Ngân hàng Nhà nước, tổng phương tiện thanh toán tăng xấp xỉ 22% so với cuối năm 2011; tăng trưởng tín dụng đạt xấp xỉ 10%, trong đó tín dụng VND tăng 11,51%, tín dụng ngoại tệ giảm 1,56% so với cuối năm 2011. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế năm 2012 cũng tăng thấp, khoảng 6%, chỉ đạt hơn 30% so với mục tiêu. Nguyên nhân là do tổng cầu của nền kinh tế đang trong suy giảm, nền kinh tế không hấp thu được tín dụng. Chính vì vậy, công cụ hạn HMTD trở nên vô tác dụng.

Năm 2013, cầu tín dụng dự báo không có nhiều đột biến, do nền kinh tế vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và hai nút thắt lớn nhất là nợ xấu, hàng tồn kho vẫn chưa được xử lý dứt điểm, nên các ngân hàng cũng không mạo hiểm chạy đua tăng trưởng tín dụng. Các ngân hàng đang tập trung vào việc tái cơ cấu hệ thống để đảm bảo phát triển bền vững. Vì thế, việc Ngân hàng Nhà nước giao HMTD cao nhất là 12% đối với hầu hết các NHTM có sức khỏe và tốc độ tín dụng tăng trưởng tốt trong năm 2012, thực sự là không cần thiết và không đúng thời điểm. Cơ quan quản lý nhà nước nên để họ tự cân đối trên cơ sở khả năng huy động vốn, xử lý nợ xấu, mục tiêu quản trị ngân hàng…

Chưa xây dựng được bộ tiêu chí phân loại các tổ chức tín dụng và phương pháp tính toán các tiêu chí phân loại để làm căn cư phân bổ HMTD cho từng ngân hàng.

Năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã phân loại các nhóm tổ chức tín dụng làm căn cứ phân hạng mức tín dụng, nhưng cơ quan này lại không công khai các tiêu chí xếp hạng, phương pháp tính toán và bảng xếp hạng. Vì vậy, việc phân loại này không có sức thuyết phục đối với các tổ chức tín dụng. Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay, các tiêu chí và phương pháp đánh giá, xếp hạng tín nhiệm các tổ chức tín dụng còn rất nhiều bất cập, chất lượng xếp hạng tín nhiệm của một vài tổ chức công bố chưa được thị trường công nhận. Vì vậy, căn cứ để đánh giá, xếp loại, phân hạng các tổ chức tín dụng để từ đó phân bổ HMTD còn nhiều vấn đề, chưa đảm bảo chính xác, công khai, minh bạch.

Nhìn chung, thực tế gần 3 năm áp dụng trở lại công cụ HMTD đều không đạt được mục tiêu đề ra. Cùng với đó là những nhược điểm, hạn chế của công cụ này cho thấy, không phù hợp với tiến trình đổi mới điều hành chính sách kinh tế vĩ mô nói chung, vận hành nền kinh tế thị trường nói riêng. Vì thế, theo chúng tôi, Ngân hàng Nhà nước nên dỡ bỏ HMTD từ năm 2014. Thay vào đó, cơ quan này cần có biện pháp tăng cường giám sát chặt chẽ việc đảm bảo các tỷ lệ an toàn tín dụng, chấp hành các quy định về cho vay của tổ chức tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng thông suốt, hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

Theo TCTC

 


Bài viết cùng chuyên mục:

Bình luận bài viết

Dịch vụ Rút Tiền Thẻ Tín Dụng tại Hà Nội: GỌI NGAY0868.55.2929 hoặc 0912.655.794 để Rút Tiền Mặt Từ Thẻ Tín Dụng với chi phí thấp nhất thị trường chỉ từ 1%, phục vụ tận nơi 24/7, nhanh chóng & tiện lợi. An toàn và bảo mật.