Sử dụng công cụ "Hạn Mức Tín Dụng" tại Việt Nam

Khi nguồn vốn trong nền kinh tế là một nguồn lực có hạn, một số ngành và các lĩnh vực thiết yếu của xã hội trong các giai đoạn nhất định cần được đặc biệt chú ý và ưu tiên hơn các ngành khác, việc áp dụng hạn mức tín dụng trong các ngành này cũng cần được ưu tiên xem xét. Tuy nhiên, việc áp dụng hạn mức tín dụng nói chung và hạn mức tín dụng cho các ngành ưu tiên nói riêng là chưa hoàn toàn phù hợp với xu hướng tự do hoá và hội nhập hoá của nền kinh tế hiện nay. Thêm vào đó, việc áp dụng một hạn mức buộc các ngân hàng phải thực hiện trong một số lĩnh vực ưu tiên như của Ấn Độ tại thị trường Việt Nam có thể gặp phải một số rào cản như: (i) vi phạm nguyên tắc tự do hoá thương mại của các tổ chức kinh tế mà Việt Nam là thành viên như WTO, ASEAN... do những ưu đãi về tín dụng làm giảm chi phí sản xuất dẫn tới giảm giá thành sản phẩm xuất khẩu, từ đó, dẫn tới những vụ kiện trợ giá, phá giá... làm ảnh hưởng xấu tới hình ảnh, thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế; (ii) những chi phí cho việc áp dụng hạn mức thường rất lớn đặc biệt là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn và chi phí dành cho các tài sản không sinh lời (do nợ, đọng vốn) mà thực tế sử dụng hạn mức của Ấn Độ đã chứng minh những chi phí này thậm chí còn lớn hơn cả những lợi ích mà việc sử dụng hạn mức mang lại; (iii) việc hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên chưa chắc đã mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Khi năng suất cũng như chất lượng của một ngành không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền vốn đổ vào cho ngành đó, mà còn phụ thuộc nhiều ở chất lượng lao động cũng như các yếu tố ngoại cảnh khác (như khí hậu, đất đai trong lĩnh vực nông nghiệp) thì việc liên tục tăng trưởng tín dụng cho ngành mà không có những quan tâm, kiểm soát tới việc sử dụng nguồn tín dụng này sẽ chỉ gây ra lãng phí vốn, thậm chí dẫn tới nhiều biểu hiện tiêu cực đến toàn nền kinh tế. Do đó, hướng áp dụng hạn mức tín dụng ngành ở Việt Nam có thể nên được thực hiện theo chiều ngược lại, có nghĩa là, áp dụng một hạn mức tín dụng cho các ngành tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, nhưng lại có mức tăng trưởng tín dụng cao hiện nay như bất động sản hay các dự án BOT nhằm hạn chế dòng vốn chảy vào các lĩnh vực này. Điều này không chỉ giúp làm giảm nguy cơ “bong bóng” gây nên những cuộc khủng hoảng kinh tế, mà còn gián tiếp hướng dòng tín dụng chảy vào các ngành có mức độ rủi ro thấp hơn, tạo sự ổn định, an toàn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc sử dụng hạn mức tín dụng, một số bài học có thể được rút ra trong việc áp dụng hạn mức dù là trong việc sử dụng hạn mức để tăng tín dụng đối với lĩnh vực ưu tiên hay để giảm tín dụng cho các lĩnh vực nhiều rủi ro, cụ thể:

Thứ nhất, nên có một hệ thống giám sát quá trình thực hiện một cách nghiêm túc, công bằng. Hạn mức tín dụng là một công cụ mang tính chất bắt buộc, do đó, việc có một cơ quan giám sát thực hiện cũng như để theo dõi, nắm bắt kịp thời những diễn biến của thị trường trong quá trình thực hiện để có những điều chỉnh kịp thời là vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, do áp lực từ chỉ tiêu phải thực hiện, các ngân hàng cũng rất có thể sẽ có những hành động làm trái quy định, “lách luật” để đảm bảo cho những lợi ích của ngân hàng mình. Nếu không có những theo dõi sát sao có thể sẽ dẫn tới những hướng đi sai lệch của thị trường, để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Thứ hai, do tính bắt buộc cũng như sự thiếu linh hoạt của các công cụ trực tiếp trong chính sách tiền tệ, hiệu quả mang lại cho nền kinh tế có thể sẽ không được như mong muốn. Do vậy, để khắc phục nhược điểm của các công cụ này, việc kết hợp với các yếu tố khác có tính linh hoạt hơn sẽ đảm bảo cho sự hiệu quả của công cụ. Như việc sử dụng kết hợp với thị trường mở trong việc mua bán các chứng chỉ cho vay lĩnh vực ưu tiên của Ấn Độ là một sáng kiến rất đáng học hỏi. Tuy nhiên, để có thể kết hợp thêm với các công cụ trên thị trường mở thì hệ thống tài chính mà cụ thể ở đây là nghiệp vụ thị trường mở cần phải có sự phát triển nhất định. Việc đảm bảo cho sức mua của thị trường đối với các chứng chỉ cho vay bằng cách tăng lãi suất cũng như được sự bảo lãnh phát hành của Ngân hàng Nhà nước cũng là một cách làm hiệu quả khi thị trường tài chính chưa phát triển. Đối với việc không khuyến khích tăng trưởng tín dụng trong một số ngành, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể can thiệp thông qua thị trường mở bằng cách giảm lãi suất chiết khấu của các chứng chỉ. Bên cạnh đó, những yếu tố về uy tín, sự minh bạch trong các loại hàng hóa được trao đổi trên thị trường cũng là một yếu tố rất quan trọng, quyết định tới sức mua của thị trường. Do vậy, những chính sách nhằm thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường mở trong thời gian tới ở Việt Nam nên được các cơ quan chức năng ưu tiên thực hiện bên cạnh việc các ngân hàng thương mại tích cực mở rộng cũng như lành mạnh hóa các hoạt động của mình.

Thứ ba, về mặt dài hạn, cách áp đặt một hạn mức cụ thể cho các ngân hàng sẽ làm giảm đi tính tự do cũng như tính cạnh tranh giữa các ngân hàng. Hơn thế nữa, việc áp dụng hạn mức buộc các ngân hàng phải tuân thủ trong một thời gian dài có thể dẫn tới những tình huống phát sinh gian lận do áp lực phải đạt được mục tiêu, từ đó làm sai lệch đi mục đích ban đầu khi sử dụng công cụ. Do đó, việc xây dựng một lộ trình làm giảm dần tác động của các công cụ này là rất cần thiết.

 


Bài viết cùng chuyên mục:

Bình luận bài viết

Dịch vụ Rút Tiền Thẻ Tín Dụng tại Hà Nội: GỌI NGAY0868.55.2929 hoặc 0912.655.794 để Rút Tiền Mặt Từ Thẻ Tín Dụng với chi phí thấp nhất thị trường chỉ từ 1%, phục vụ tận nơi 24/7, nhanh chóng & tiện lợi. An toàn và bảo mật.